Bảng tổng hợp vướng mắc và nội dung giải đáp tại Hội nghị đối thoại Doanh nghiệp Hàn Quốc năm 2014

BẢNG TRẢ LỜI CÁC CÂU HỎI TRONG HỘI NGHỊ ĐỐI THOẠI DOANH NGHIỆP HÀN QUỐC NĂM 2014

Câu hỏi 1: 

Công ty giao hàng xuất khẩu nội địa từ Long Thành vào Hải quan Linh Trung, khi kiểm tra trên Hệ thống VNACSS cơ quan hải quan không thấy tờ khai của công ty- Mã khai báo hải quan hàng nội địa Là: E56 nhưng loại hình này không có địa điểm giao dịch báo thuế của Hải Quan Linh Trung : 02F1XF1. Vậy trường hợp này Công ty khai báo mã loại hình như thế nào?

Trả lời:

Đối với trường hợp mã loại hình không thuộc đối tượng được khai vận chuyển kết hợp theo quy định tại công văn 3283/TCHQ-GSQL ngày 31/3/2014 của Tổng cục Hải quan (ví dụ: E56). Doanh nghiệp sẽ khai phần đề nghị chuyển cửa khẩu đến cửa khẩu xuất vào phần ghi chú trên tờ khai VNACCS. Công chức thuộc nơi đăng ký tờ khai sẽ vào hệ thống E-customs V5, thực hiện chức năng F để chuyển cửa khẩu.

Cụ thể, nếu doanh nghiệp mở tờ khai xuất khẩu tại Chi cục Hải quan Long Thành, xuất hàng đến KCX Linh Trung, công chức thuộc Chi cục Hải quan Long Thành sẽ thực hiện chức năng F trên hệ thống E-customs để ghi nhận cửa khẩu xuất là Hải quan Linh Trung: 02F1XF1. Công ty không phải khai bổ sung sau thông quan và in đính kèm.

Lưu ý: trường hợp tờ khai luồng xanh đã được thông qua Doanh nghiệp thông báo số tờ khai với cơ quan Hải quan nơi đăng ký tờ khai để thực hiện thao tác trên E-customs.

Câu hỏi 8Sau khi kết thúc kiểm tra PCCC có biên bản ghi nhận kết quả, nhưng sau đó đoàn kiểm tra khác đến lại có kết luận khác nhau, vậy doanh nghiệp thực hiện theo kết luận nào?

Trả lời:

Công tác kiểm tra an toàn PCCC được thực hiện theo quy trình, quy định. Nội dung kiểm tra được căn cứ vào tình hình thực tế tại cơ sở đối chiếu với các văn bản quy phạm pháp luật và tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện hành.

Theo câu hỏi của doanh nghiệp, hiện Cảnh sát PC&CC tỉnh chưa xác định cụ thể vấn đề, do đó Cảnh sát PC&CC tỉnh trả lời doanh nghiệp theo những nguyên nhân sau dẫn đến việc cùng một vấn đề, một khu vực nhưng các biên bản có kết luận khác nhau như sau:

- Về công tác an toàn PCCC trong bố trí sắp xếp hàng hóa, dây chuyền công nghệ, hệ thống điện vv… tùy vào thời điểm sản xuất thì tính chất nguy hiểm cháy nổ cũng khác nhau, ví dụ vào thời gian giáp tết lượng hàng hóa sản xuất để phục vụ nhu cầu của con người tăng dẫn đến nguy cơ cháy, nổ cao. Vì vậy, kết luận của đoàn kiểm tra trong thời gian này cũng có những yêu cầu nghiêm ngặt hơn so với những tháng mà lượng hàng hóa ít hơn.

- Đối với nhà kho được xây dựng trước năm 2009 (trước khi có TCVN 3890 - 2009) thì việc trang bị phương tiện PCCC đối với nhà kho được áp dụng theo TCVN 4317 – 1986 và TCVN 2622 – 1995, trong đó quy định rõ những trường hợp nào bắt buộc phải trang bị các hệ thống PCCC thích hợp như cấp nước, báo cháy tự động, chữa cháy tự động … Đối với các doanh nghiệp xây dựng từ năm 2009 đến nay thì việc trang bị phương tiện PCCC áp dụng theo TCVN 3890 – 2009. Vì vậy, nếu doanh nghiệp thuộc diện phải trang bị phương tiện PCCC đến mức độ nào thì phải trang bị đầy đủ theo quy định. Nếu có khó khăn cần làm rõ liên hệ Cảnh sát PC&CC tỉnh, địa chỉ: số 1032 Đường Nguyễn Ái Quốc, phường Trảng Dài, Tp.Biên Hòa, T.Đồng Nai. Cảnh sát PC&CC sẽ có phúc đáp cho doanh nghiệp bằng văn bản.

Câu hỏi 14: Hiện nay khi Doanh nghiệp nộp hồ sơ bảo hiểm xã hội cho người lao động tại phòng một cửa gặp một số khó khăn như: gộp sổ ghi ngày tháng năm sinh bằng 01/01 khi tờ khai của người lao động là chính xác nhưng khi cấp sổ ghi sai ngày. Hỏi trường hợp này người lao động phải làm như thế nào để được gộp sổ?

Trả lời:

Theo quy định mỗi người tham gia BHXH được cấp 01 sổ bảo hiểm xã hội trong suốt quá trình làm việc có tham gia BHXH. Tuy nhiên, cũng có trường hợp một người được cấp nhiều sổ BHXH, nên phải làm thủ tục gửi cơ quan BHXH để gộp các quá trình tham gia BHXH của người tham gia BHXH vào một sổ BHXH.

Theo trình bày của đơn vị, người lao động lập tờ khai tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đúng nhưng do công chức cơ quan BHXH sơ suất nhập dữ liệu sai thì cơ quan BHXH phải điều chỉnh thông tin về ngày tháng sinh cho người lao động trên chương trình, sau đó đối chiếu với các thông tin về nhân thân trên các sổ BHXH để tiến hành gộp các quá trình tham gia BHXH vào một sổ.

Do đơn vị phản ánh vấn đề nêu trên không cho biết thông tin về tên đơn vị nên không thể liên hệ để kiểm tra lại hồ sơ. Đề nghị đơn vị liên hệ nộp lại hồ sơ cho Phòng Tiếp nhận - Quản lý hồ sơ Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai.

Câu hỏi 16Điều kiện để người nước ngoài được cấp giấy phép lao động tại Việt Nam còn nhiều khó khăn. Theo doanh nghiệp biết vừa qua, Luật đã có quy định theo hướng giảm bớt khó khăn trong cấp phép, xin hỏi ở Đồng Nai đã áp dụng những điều kiện đó như thế nào?

Đại diện Sở Lao động - Thương binh và Xã hội trả lời:

Các doanh nghiệp thực hiện theo:

- Bộ Luật Lao động năm 2012;

- Nghị định 102/2013/NĐ-CP ngày 05/09/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số Điều của Bộ Luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.

 - Thông tư 03/2014/TT-BLĐTBXH ngày 20/01/2014 của Bộ Lao động thương binh và xã hội hướng dẫn thi hành một số Điều của Nghị định 102/2013/NĐ-CP ngày 05/09/2013.

Sau khi Luật Lao động có hiệu lực (01/05/2013), nhiều doanh nghiệp đã có kiến nghị khó khăn về chứng nhận tốt nghiệp Đại học và hồ sơ cấp phép cho lao động là công nhân kỹ thuật, ngày 08/07/2014, Chính phủ đã có Nghị quyết số 47/NQ-CP chỉ đạo: “người nước ngoài là chuyên gia, lao động kỹ thuật nếu đáp ứng yêu cầu về trình độ chuyên môn đào tạo hoặc có ít nhất 5 năm kinh nghiệm làm việc phù hợp với vị trí công việc mà người nước ngoài dự kiến sẽ làm việc tại Việt Nam”.

Như vậy, từ khi có nghị quyết của Chính phủ, tại Đồng Nai chỉ yêu cầu 1 trong 2 điều kiện đối với chuyên gia, lao động kỹ thuật là có bằng Đại học, hoặc 5 năm kinh nghiệm.

Câu hỏi 17:

Điều kiện để người nước ngoài được cấp giấy phép lao động tại Việt Nam có yêu cầu chứng minh là không phạm tội ở nước ngoài, ở Việt Nam. Vậy thủ tục chứng minh như thế nào?

Đại diện Sở Lao động - Thương binh và Xã hội trả lời:

- Đối với các trường hợp trước đây đã làm việc ở Việt Nam, sau đó quay lại Việt Nam làm thì phải xin xác minh lý lịch tư pháp ở Trung ương, tuy nhiên, ít phát sinh trường hợp này.

- Đối với trường hợp đang ở Việt Nam và xin giấy phép lao động thì cần 02 phiếu lý lịch tư pháp: ở nước sở tại (nước ngoài) xác định không phải tội phạm, không phải người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự và ở cơ quan tư pháp nơi người lao động cư trú.

- Đối với người mới sang Việt Nam làm việc: Chỉ cần phiếu lý lịch tư pháp của nước sở tại cấp.

Sau khi có phiếu lý lịch tư pháp, Sở Lao động sẽ cấp giấy phép, không có khó khăn về thủ tục.

Câu hỏi 19 :

Khi doanh nghiệp đi vào hoạt dộng sản xuất việc trang bị, lắp đặt hệ thống, phương tiện PCCC là tự trang bị, lắp đặt hay phải thuê một đơn vị khác thực hiện? Kiểm tra tính hiệu quả của hệ thống PCCC như thế nào?

Đại diện Phòng Cảnh sát PCCC trả lời:

- Tại mục 5.1.1-TCVN 3890:2009 quy định „tất cả các khu vực, hạng mục trong nhà và công trình có nguy hiểm về cháy kể cả những nơi đã được trang bị hệ thống chữa cháy phải trang bị bình chữa cháy xách tay hoặc bình chữa cháy xách tay hoặc bình chữa cháy có bánh xe”. Do đó việc trang bị bình chữa cháy tại chỗ tại các khu vực nguy hiểm về cháy, nổ là yêu cầu bắt buộc thực hiện nhằm xử lý nhanh các tình huống cháy, nổ xảy ra ngay từ khi mới phát sinh. Số lượng bình chữa cháy cần trang bị cho các khu vực được quy định tại mục 5.1.3 –TCVN 3890:2009 dựa vào mức nguy hiểm cháy tại các khu vực đó, đối với khu vực có mức nguy hiểm cháy thấp thì định mức trang bị bình chữa cháy là 1 bình /150m2, khu vực có mức nguy hiểm cháy Trung bình thì định mức trang bị là 1 bình/75m2, khu vực có mức nguy hiểm cháy cao phải trang bị định mức bình chữa cháy là 1 bình/50 m2.

Việc xác định mức nguy hiểm cháy của nhà và công trình được quy định tại Phụ lục D TCVN 7435-2 (ISO 11602-2).

- Việc lắp đặt hệ thống, phương tiện PCCC cho công trình, hạng mục công trình phải do đơn vị có năng lực, kiến thức chuyên ngành về PCCC và tư cách pháp nhân thực hiện. Trong trường hợp doanh nghiệp muốn tự lắp đặt thì doanh nghiệp phải đảm bảo đầy đủ năng lực, tư cách pháp nhân về hành nghề thi công, lắp đặt hệ thống PCCC theo quy định thì có thể thực hiện việc trang bị, lắp đặt hệ thống, phương tiện PCCC.

Nghị định 79/2014/NĐ-CP ngày 31/7/2014 của Chính phủ về quy định định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy có hiệu lực từ ngày 15/9/2014 quy định cụ thể về điều kiện để doanh nghiệp, cơ sở thi công, lắp đặt hệ thống PC và CC. Cụ thể tại Điều 43 – Nghị định 79/2014/NĐ-CP ngày 31/7/2014 quy định doanh nghiệp, cơ sở muốn thi công, lắp đặt hệ thống PCCC phải đmả bảo các điều kiện sau:

1.Người đứng đầu doanh nghiệp và người đại diện theo pháp luật cơ sở phải có văn bằng, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức về phòng cháy và chữa cháy.

2. Có ít nhất 01 chỉ huy trưởng thi công về phòng cháy và chữa cháy/

3. Có địa điểm hoạt động và cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bị, máy móc đảm bảo cho việc thi công, lắp đặt hệ thống phòng cháy và chữa cháy.

- Việc trang bị, lắp đặt các hệ thống PCCC cho công trình, hạng mục công trình là yêu cầu bắt buộc nhằm đảm bảo án toàn PCCC cho nhà và công trình đã được quy định trong các tiêu chuẩn, quy chuẩn PCCC hiện hành như: TCVN 4317-1986; TCVN 2622-1995; TCVN 3890-2009.

Các hệ thống PCCC được trang bị ở điều kiện bình thường, doanh nghiệp thấy không phát huy hiệu quả, tuy nhiên trong trường hợp có sự cố cháy nổ xảy ra thì có tác dụng rất lớn trong việc phát hiện và chữa cháy kịp thời, ngăn chặn cháy lan, cháy lớn. Bảo vệ tài sản cho chính doanh nghiệp và những tác động khác đến môi trường đầu tư, an ninh trật tự, an sinh xã hội....

Câu 21:

Theo Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số số quy định trong các quy định pháp luật thuế hiện hành, hàng hóa là vật tư, nguyên liệu nhập khẩu để phục vụ sản xuất hàng hóa xuất khẩu, nếu doanh nghiệp đáp ứng đầy đủ các điều kiện thì ân hạn nộp thuế tối đa 275 ngày. Trong trường hợp không đáp ứng đầy đủ các điều kiện nêu trên nhưng đã thực hiện bảo lãnh tiền thuế sẽ thông qua tổ chức tín dụng, thì thời hạn nộp thuế sẽ theo thời gian bảo lãnh hoặc không quá 275 ngày kể từ ngày đăng kí tờ khai hải quan và trong thời gian bảo lãnh không phải đóng tiền gia hạn tính thêm. Trong trường hợp không đáp ứng đầy đủ các điều kiện nêu trên nhưng không làm bảo lãnh từ tổ chức tín dụng thì sẽ phải nộp tiền thuế trước khi xuất hàng đi cũng như trước khi thông quan hàng hóa.

*Kiến nghị: Hải quan Việt Nam đã thực hiện chế độ trì hoãn thu thuế tới tối đa 275 ngày đối với các công ty xuất khẩu có nhập khẩu nguyên liệu sản xuất để hỗ trợ đẩy mạnh khả năng cạnh tranh của các công ty xuất khẩu.

Để sử dụng chế độ này về thời gian nhận trì hoãn nộp thuế với mỗi giao dịch nhập khẩu phải đính kèm bảo lãnh thực hiện nộp thuế của ngân hàng.Đồng ý phương án để các công ty trong vòng 1 năm phát hành bảo lãnh đính kèm với đơn vị năm với giá trị bình quân tháng ở mức 130% giá trị giao dịch (bao gồm 1,3 lần do tính cả tiền tính thêm do trả chậm tiền thuế) để cắt giảm số lần phát hành bảo lãnh thành 1 lần duy nhất.

Trả lời:

Thời hạn nộp thuế loại hình NSXXK được quy định tại khoản 3 Điều 42 Luật quản lý thuế được sửa đổi bổ sung tại khoản 11 điều 11 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế. Về thời hạn bảo lãnh và hạn mức bảo lãnh đề nghị doanh nghiệp làm việc với tổ chức tín dụng.

Câu 23: Doanh nghiệp chuyên nhập khẩu vật tư dùng cho công nghiệp về để sản xuất. Vấn đề doanh nghiệp đang gặp phải là thuế nhập khẩu quá cao nên sản phẩm của chúng tôi không có tính cạnh tranh. Chúng tôi đang phải đóng 12% thuế NK cho các sản phẩm nhập khẩu có mã HS : 53116090. Trong khi đó chúng tôi chỉ phải đóng thuế NK cho các nước lân cận là 8% dẫn đến chênh lệch, nên chúng tôi mong rằng sẽ có điều chỉnh về thuế NK để giảm thiếu sự chênh lệch này.

Trả lời:

Việc thay đổi thuế suất hàng hóa thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ Tài chính. Đề nghị doanh nghiệp có công văn báo cáo Bộ Tài chính xem xét.

Câu 26:  Cung cấp đường dây nóng của Cục Hải quan Đồng Nai với các cơ quan chịu trách nhiệm và phân theo nhiệm vụ, ngay khi có phát sinh vướng mắc hay kiến nghị của doanh nghiệp ngay lập tức có thể thông qua đường dây nóng để thông báo và tìm ra phương án giải quyết.

Trả lời:

Đối với việc cung cấp đường dây nóng, hiện nay tại các Chi cục nơi làm thủ tục hải quan đều có niêm yết công khai tên, số điện thoại của Lãnh đạo chi cục và lãnh đạo cục để kịp thời xử lý vướng mắc của doanh nghiệp; Đồng thời trên trang website: dncustoms.gov.vn cung cấp đường dây nóng, danh bạ điện thoại cụ thể của Lãnh đạo các đơn vị để doanh nghiệp tiện liên hệ. Ngoài ra trong quá trình hoạt động nếu có những vấn đề vướng mắc doanh nghiệp có thể đăng ký làm việc trực tiếp hoạc vào mục tư vấn thủ tục hải quan để gửi câu hỏi sẽ được trả lời trong thời gian sớm nhất.

Câu 27: Năm nay kế hoạch kiểm duyệt PCCC của công ty chúng tôi được chia làm 4 lần, mỗi lần chia theo quý, Nếu kiểm duyệt PCCC 1 năm 2 lần cho 6 tháng đầu/cuối năm thì liệu có đủ hay không? Quy định về thiết bị PCCC phải bổ sung thêm sau khi kiểm duyệt như thế nào?

Trả lời:

(Căn cứ theo công văn số 1510/CSPCCC-PC ngày 22/9/2014 của Cảnh sát PC & C tỉnh Đồng Nai v/v trả lời vướng mắc của doanh nghiệp sau Hội nghị đối thoại với DN Hàn quốc năm 2014)

Tại điểm c khoản 3 Điều 19 của Nghị định số 35/2003/NĐ-CP ngày 04/04/2003 và điểm c khoản 2 Điều 18 của Nghị định số 79/2014/NĐ – CP ngày 31/7/2014 (Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 15/9/2014) quy định :“Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy có trách nhiệm kiểm tra an toàn về phòng cháy và chữa cháy định kỳ hàng quý đói với các cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ và phương tiện giao thông cơ giới có yêu cầu đặc biệt bảo đảm an toàn về phòng cháy và chữa cháy; 06 tháng hoặc một năm đối với các đối tượng còn lại và kiểm tra đột xuất khi có dấu hiệu nguy hiểm, mất an toàn về phòng cháy và chữa cháy hoặc vi phạm quy định an toàn về phòng cháy và chữa chát và kho có yêu cầu bảo vệ đặc biệt”. Do đó, nếu công ty của doanh nghiệp thuộc đối tượng phải kiểm tra 04 lần/năm (các cơ sở thuộc Phụ lực 1 – Nghị định số 35/2003/NĐ-CP ngày 04/4/2003) thì cơ quan Cảnh sát PC & CC tỉnh Đồng Nai tổ chưc kiểm tra an toàn PCCC tại cơ sở của doanh nghiệp là hoàn toàn thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Việc theo dõi tình trạng hoạt động của các phương tiện PCCC, theo dõi công tác tuyên truyền, bồi dưỡng huấn luyện nghiệp vụ và hoạt động của đội PCCC bằng sổ sách là hoàn toàn cần thiết và được quy định tại Điều 3 của Thông tư số 11/2014/TT-BCA ngày 12/3/2014 của Bộ Công an. Qua theo dõi sổ sách sẽ phát hiện và có kế hoạch thay thế, bổ sung phương tiện, thiết bị PCCC đảm bảo số lượng, chất lượng theo quy định.

Việc trang bị phương tiện PCCC cho công trình, hạng mục công trình là yêu cầu bắt buộc nhằm đảm bảo án toàn PCCC cho nhà và công trình đã được quy định trong các tiêu chuẩn, quy chuẩn PCCC hiện hành như: TCVN 4317-1986; TCVN 2622-1995; TCVN 3890-2009. Do đó sau khi cơ quan cảnh sát PC & CC kiểm tra an toàn về cháy, nổ tại cơ sở của doanh nghiệp sẽ căn cứ vào tình hình thực tế, mức độ nguy hiểm về cháy, nổ tại cơ sở và sẽ có các kiến nghị cụ thể để cơ sở trang bị phương tiện PCCC tại từng khu vực nguy hiểm cháy, nổ khác nhau theo đúng quy định của các tiêu chuẩn PCCC Viện Nam hiện hành. Cơ sở có thể lựa chọn bất kỳ đơn vị nào cung cấp, lắp đặt phương tiện, thiết bị PCCC theo thỏa thuận trong hợp đồng nhưng các phương tiện PCCC này phải đảm bảo về chất lượng, mẫu mà đơn vị thi công lắp đặt phải đảm bảo năng lực, tư cách pháp nhân theo quy định.

Câu 28: Cung cấp đường dây nóng của Sở Cảnh sát PCCC Đồng Nai với các cơ quan chịu trách nhiệm và phân theo nhiệm vụ, ngay khi có phát sinh vướng mắc hay kiến nghị của doanh nghiệp ngay lập tức có thể thông qua đường dây nóng để thông báo và tìm ra phương án giải quyết.

Trả lời:

Các vướng mắc, kiến nghị của doanh nghiệp về công tác PCCC có thể truy cập vào địa chỉ website www.socanhsatpccc.dongnai.gov.vn của Cảnh sát PC & CC tỉnh Đồng Nai, sau đó vào chuyên mục Hỏi – đáp – Tư vấn để gửi các câu hỏi thắc mắc, Cảnh sát PC & CC tỉnh Đồng Nai sẽ trả lời trực tiếp trên website cho doanh nghiệp hoặc có thể gửi văn bản trực tiếp về Cảnh sát PC & CC tỉnh Đồng Nai, địa chỉ: Số 1032 đường Nguyễn Ái Quốc, P.Trảng Dài, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, Cảnh sát PC & CC tỉnh Đồng Nai sẽ phúc đáp bằng văn bản.

Câu 29:  Kiến nghị về vấn đề kiểm tra tốc độ các phương tiện vận tải

Trả lời:

Đồng Nai là một trong những địa bàn có tình hình trật tự an toàn giao thông phức tạp, tai nạn giao thông và thiệt hại hàng năm xảy ra ở mức cao. Theo thống kê, một trong những nguyên nhân chiết tỷ lệ cao dẫn đến tai nạn giao thông là do người điều khiển phương tiện cơ giới đường bộ chạy quá tốc độ cho phép. Thực hiện các giải pháp nhằm kiềm chế, làm giảm tai nạn giao thông, lực lượng cảnh sát giao thông tập trung tăng cường hoạt động kiểm soát, xử lý, ngăn chặn hành vi điều điều khiển xe chạy quá tốc độ cho phép.

Việc giám sát, kiểm tra, xử lý vi phạm tốc độ lực lượng Cảnh sát giao thông đưa vào kế hoạch thực hiện thường xuyên trên các tuyến đường có nhiều hành vi vi phạm về tốc độ và tai nạn giao thông, nhất là các tuyến quốc lộ qua địa bàn tỉnh. Về hình thức đo tốc độ, bên cạnh các máy đo tốc độ được lắp đặt trên các xe tuần tra giao thông hoặc cán bộ chiến sỹ Cảnh sát giao thông mặc cảnh phục trực tiếp đo tốc độ, xử lý vi phạm tại các điểm cố định thì theo quy định của pháp luật, Cảnh sát giao thông còn áp dụng hình thức hóa trang, một bộ phận cán bộ, chiến sỹ trong tổ công tác đo tốc độ mặc thường phục sử dụng máy đo tốc độ để giám sát, phát hiện vi phạm và thông báo cho bộ phận tuần tra công khai, Cảnh sát giao thông mặc cảnh phục dừng xe. Xử lý. Các thông tin liên quan về vi phạm được cung cấp kịp thời trong xử lý vi phạm. Thực tế áp dụng hình thức kiểm tra tốc độ công khai kết hợp với hóa trang đã nâng cao hiệu quả phát hiện xử lý vi phạm.

Thời gian qua thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh, lực lượng Cảnh sát giao thông đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm tăng cường tính công khai, minh bạch và nâng cao hiệu quả trong tổ chức giám sát, xử lý vi phạm tốc độ, như: Hiện nay ở những đoạn đường tổ chức giám sát tốc độ trên cá quốc lộ đều được lắp đặt nhiều bảng thông tin với nội dung: “Đoạn đường thường xuyên kiểm tra tốc độ các loại xe” để công khai, cảnh báo đốiv ới lái xe; toàn bộ máy đo tốc độ được trang bị, sử dụng trong kiểm tra, xử lý vi phạm là loại máy đo tốc độ hiện đại có ghi hình kể cả vào ban đêm thế hiện rõ biển số xe, thời gian, tọa độ nơi vi phạm; in rõ hình ảnh xe vi phạm và được cung cấp ngay cho lái xe để chứng minh vi phạm khi lái xe yêu cầu.

Việc tổ chức hoạt động giám sát, kiểm tra tốc độ của lực lượng Cảnh sát giao thông thực hiện theo hình thức công khai hoặc hóa trang đều trên cơ sở pháp luật quy định; có kế hoạch, phương án chạt chẽ; sử dụng thiết bị đo tốc độ hiện đại; đảm bảo công khai, minh bạch trong xử lý vi phạm nhất là chứng minh, cung cấp ngay kết quả ghi nhận vi phạm tốc độ cho người vi phạm khi họ yêu cầu và hoạt động này nhằm mục đích ngăn chặn, hạn chế lái xe phóng nhanh, chạy quá tốc độ, là hành vi trực tiếp gây ra các vụ tai nạn giao thông.

Câu 30 : Cung cấp đường dây nóng của Công An tỉnh Đồng Nai với các cơ quan chịu trách nhiệm và phân theo nhiệm vụ, ngay khi có phát sinh vướng mắc hay kiến nghị của doanh nghiệp ngay lập tức có thể thông qua đường dây nóng để thông báo và tìm ra phương án giải quyết.

Trả lời:

Các doanh nghiệp cần gửi trước cho cơ quan chức năng các nội dung vướng mắc để cơ quan chức năng chuẩn bị và giải đáp tại hội nghị hàng năm. Thời gian tới sẽ huy động nhiều cơ quan chức năng tham dự Hội nghị để trả lời đầy đủ các vướng mắc của doanh nghiệp tại Hội nghị.

Hiện nay hầu hết các cơ quan chức năng của tình đều đã công bố số điện thoại đường dây nóng để người dân, các doanh nghiệp liên hệ phản ánh thông tin và các cơ quan chức năng thông báo, trả lời những kiến nghị, vướng mắc của người dân, doanh nghiệp liên quan đến chức trách, nhiệm vụ của mình. Công an tỉnh có các số điện thoại đường dây nóng sau: 061.8820.111, 061.8820.999.

Phần Tiếng Hàn